Cốt toái bổ: Vị thuốc xương khớp quen thuộc nhưng từng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
-
Theo y học cổ truyền, dược liệu Ngút nhớt Quả ăn được, có nhớt dịu và tăng trương lực. Vỏ được xem như là bổ. Hạt được dùng tán thành bột làm thuốc đắp trị bệnh nấm.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Ngút to Quả chữa nhiều chất nhầy rất dính, có thể dùng làm keo. Có thể dùng làm thuốc dịu, làm long đờm và thu liễm như Ngút Wallich.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Ngút Wallich Quả làm nhầy, long đờm và thu liễm. Ở Ấn Độ, người ta dùng quả trị các bệnh về đường khí quản và kích thích đường tiết niệu.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nguyên tuy cúc Ở Ấn Độ, toàn cây giã ra rồi nấu với dầu, dùng đắp ngoài trị phong thấp. Nước hãm cây dùng làm thuốc rửa mặt, còn nước sắc toàn cây có hiệu quả điều trị cảm lạnh đau đầu và đau ngực.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nguyệt quế Quả có tác dụng điều kinh. Lá dùng làm gia vị. Hạt ép dầu dùng trong công nghiệp. Quả dùng làm thuốc điều kinh, dùng trị ỉa chảy, bạch đới và phù thũng. Ở Âu châu dùng kích thích sự sẩy thai.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nguyệt quới Vị cay, đắng, hơi ấm; có tác dụng gây tê, trấn kinh, giải biểu tiêu viêm, khư phong hoạt lạc; lá cũng kích thích và thu liễm. Thường dùng trị: Đòn ngã tổn thương, phong thấp đau xương; Đau dạ dày và đau răng; Ỉ...
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nhài dây Ở Campuchia, thân cây được dùng làm thứ nước uống hạ sốt.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nhài gân Dịch chiết từ cây có vị đắng, không mùi, có thể dùng khai thông khi dùng ngoài cũng như khi dùng trong. Ở Campuchia, người ta giã toàn cây lấy nước đắp vào vết rắn cắn.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nhài leo Có một chất đắng. Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ để trị nấm tóc.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nhài nhăn Vị hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp. Ở Trung Quốc, dùng trị: Viêm ruột, lỵ, tiêu hoá không bình thường; Viêm khớp xương do phong thấp; Đòn ngã gãy xương...
Theo y học cổ truyền, dược liệu Nhài nhiều hoa Hoa có tác dụng gây nôn; rễ giải độc. Ở Ấn Độ, lá khô nhúng nước cho mềm làm thành thuốc đắp trị loét ngoan cố làm cho chóng lành. Rễ dùng chống nọc độc rắn cắn. Hoa làm tăng sự tiết sữa, lợi kinh (theo Phạm...
Theo y học cổ truyền, dược liệu Cáp vàng ở Campuchia, người ta dùng các hoa tươi làm rau ăn. Gỗ nghiền thành bột dùng để xông khói chữa bệnh cho người bị choáng váng. Lá làm tăng sự tiết sữa.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Cáp to Vỏ dùng làm hương. Ở Ấn Độ, người ta dùng vỏ và lá pha uống trong chữa phù và phát ban.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Cáp mộc hình sao Ở nước ta, nhân dân dùng vỏ cây sắc rửa vết thương. Còn ở Trung Quốc, người ta dùng rễ chữa bệnh phong thấp, viêm đau khớp xương.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Cáp hàng rào Ở Campuchia, thân cây được dùng làm thuốc điều hoà kinh nguyệt. Ở Ấn Độ, người ta dùng cây làm thuốc hạ nhiệt, chuyển hoá tăng trương lực và dùng trị các bệnh ngoài da.
Theo y học cổ truyền, dược liệu Cáp gai đen Vỏ rễ có vị đắng, có tác dụng làm dịu, lợi tiêu hoá, lợi mật. Lá chống kích thích. Vỏ rễ được sử dụng làm thuốc về đường tiêu hoá và trị ỉa chảy. Lá dùng đắp trị nhọt, sưng phù và trĩ.